Thị trường

Lãi suất và thanh khoản ngân hàng hằng năm 2025

Tận dụng cơ hội Fed đảo chiều chính sách, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã duy trì được chính sách tiền tệ nới lỏng, giữ lãi suất thấp trong năm 2025. Quan trọng là hỗ trợ kịp thời thanh khoản khi thị trường cần.

FED BẮT ĐẦU CHU KỲ CẮT GIẢM LÃI SUẤT 

Sau thời gian dài duy trì lãi suất ở mức đỉnh để theo dõi diễn biến lạm phát và thị trường lao động, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã chính thức đảo chiều chính sách với 3 lần cắt giảm lãi suất sau cuộc họp tháng 9, 10 và 12, hạ lãi suất qua đêm chuẩn xuống phạm vi 3.5% – 3.75%.

Động thái của Fed diễn ra trong bối cảnh Tổng thống Mỹ Donald Trump liên tục kêu gọi Fed cắt giảm lãi suất nhanh và mạnh hơn để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, nhiều quan chức Fed vẫn duy trì cách tiếp cận thận trọng, nhằm cân đối giữa kiềm chế lạm phát và ổn định thị trường việc làm.

Sau 3 lần hạ lãi suất trong năm nay, các quan chức Fed đã trở nên thận trọng hơn với việc hạ lãi suất. Dựa trên biểu đồ dot-plot – vốn thể hiện dự báo lãi suất của từng thành viên, các quan chức Fed dự báo chỉ 1 đợt cắt giảm vào 2026 và một đợt khác vào 2027 trước khi lãi suất quỹ liên bang đạt mục tiêu dài hạn khoảng 3%.

Mặc dù vậy, động thái 3 lần hạ lãi suất của Fed đã giúp giảm áp lực tỷ giá, tạo cơ hội hút vốn đầu tư, hỗ trợ NHNN trong việc điều hành; đồng thời cũng khiến dòng vốn đầu tư gián tiếp quay lại các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam.

NHNN LINH HOẠT ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ , HỖ TRỢ THANH KHOẢN 

Sau Tết Nguyên đán 2025, dòng tiền nhanh chóng quay trở lại hệ thống, nhưng đầu ra tín dụng lại tắc nghẽn. Nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp và cá nhân suy yếu do lo ngại về đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu và việc Mỹ áp thuế đối ứng. Trong khi đó, việc huy động vốn vẫn tăng trưởng dương, dẫn đến tình trạng “tiền nhàn rỗi” ứ đọng. Các ngân hàng quốc doanh với nguồn vốn dồi dào cũng hạn chế vay mượn, kéo giảm cầu tín dụng trên thị trường liên ngân hàng.

Hệ quả là lãi suất liên ngân hàng qua đêm giảm liên tục, xuống 2.46%/năm vào ngày 25/4 và tiếp tục giảm về mức thấp nhất năm (1.62%/năm) vào ngày 24/6.

Song song đó, NHNN cũng duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng, giữ mặt bằng lãi suất thấp để hỗ trợ phục hồi kinh tế. Trong giai đoạn này, NHNN không ồ ạt bơm tiền, nhưng cũng chưa thực hiện các biện pháp thắt chặt thanh khoản mạnh mẽ qua kênh OMO hoặc phát hành tín phiếu quy mô lớn, khiến lượng tiền lưu thông trên thị trường liên ngân hàng vẫn dồi dào.

Đến 30/6, lãi suất liên ngân hàng qua đêm tăng vọt lên 6.45%/năm, kỳ hạn 1 tuần cũng tăng lên 6.53%/năm, kỳ hạn 1 tháng tăng lên 5.18%/năm. Dù NHNN đã bơm ròng hơn 90,000 tỷ đồng qua kênh OMO trong phiên này (lãi suất 4% cho các kỳ hạn 7, 14, 91 ngày), nhưng căng thẳng vẫn âm ỉ kéo dài đến tháng 10.

Nguyên nhân nằm ở vấn đề tỷ giá. Dù chỉ số USD-Index giảm về dưới 100 điểm, nhu cầu ngoại tệ để thanh toán nhập khẩu trong nước cao khiến tỷ giá trung tâm cũng chịu áp lực.

Gần cuối năm, lãi suất bình quân liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm tăng lên mức 7.08%/năm vào ngày 12/12. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần cũng vọt lên 7.1%/năm, kỳ hạn 2 tuần là 7.47%/năm, kỳ hạn 3 tháng là 7.49%/năm.

Trong bối cảnh trên, NHNN tiếp tục sử dụng công cụ OMO để bơm thanh khoản cho hệ thống. Trong tuần 8-15/12, NHNN đã bơm ra thị trường 90,502 tỷ đồng thông qua kênh cho vay cầm cố, với các kỳ hạn từ 7-91 ngày và lãi suất 4.5%/năm. Lượng vốn đáo hạn trong tuần đạt 85,058 tỷ đồng, đưa quy mô bơm ròng vào hệ thống xuống còn 5,444 tỷ đồng. Tính đến ngày 15/12, khối lượng lưu hành trên kênh cho vay cầm cố đạt 407,720 tỷ đồng.

Dù quy mô bơm ròng có giảm so với tuần trước đó, nhưng tín hiệu cho thấy cơ quan điều hành đang linh hoạt điều tiết cung tiền để hỗ trợ thanh khoản tạm thời cho hệ thống trong bối cảnh nhu cầu vốn cuối năm gia tăng.

MẶT BẰNG LÃI SUẤT ỔN ĐỊNH , NHÍCH NHẸ VÀO CUỐI NĂM 

Mặt bằng lãi suất trong năm nhìn chung được ổn định, duy trì ở mức thấp để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.

Dù vậy, những diễn biến mới nhất trên thị trường tiền tệ cho thấy thanh khoản VND của hệ thống ngân hàng cuối năm đang có dấu hiệu thiếu hụt trước thông lệ tín dụng thường tăng trưởng mạnh vào cuối năm nhờ nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh và các dự án lớn phục hồi mạnh đã hút lượng lớn tiền từ hệ thống.

Dòng tiền từ dân cư có xu hướng dịch chuyển sang các kênh đầu tư khác như bất động sản, chứng khoán… thay vì tiết kiệm, khiến ngân hàng gặp khó trong việc cân đối nguồn vốn ngắn hạn. Thêm vào đó, nhu cầu thanh toán và chi trả gia tăng đột biến vào quý 4 khiến các ngân hàng phải tăng cường nắm giữ thanh khoản, đẩy lãi suất vay mượn lẫn nhau lên cao.

Bối cảnh đó buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất tiết kiệm, thu hút tiền gửi nhằm đảm bảo các tỷ lệ an toàn vốn.

DUY TRÌ MẶT BẰNG LÃI SUẤT HỢP LÝ TRONG NĂM 2026 , TẠO NỀN TẢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 

Theo ông Nguyễn Quang Huy – CEO Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi, trong bối cảnh Chính phủ định hướng năm 2026 đạt tăng trưởng khoảng 10%, ưu tiên hàng đầu vẫn là giữ vững ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát, và duy trì mặt bằng lãi suất thấp hợp lý để tạo dư địa cho đầu tư – sản xuất – tiêu dùng phục hồi mạnh mẽ.

Bước sang năm 2026, mặt bằng lãi suất tại Việt Nam dự kiến sẽ được định hình bởi 3 trụ cột giữa các yếu tố quốc tế và nội tại.

Yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất là sự chuyển dịch trong chính sách tiền tệ toàn cầu. Nếu các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới đồng loạt bước vào chu kỳ nới lỏng sau giai đoạn thắt chặt kéo dài, mặt bằng lãi suất quốc tế sẽ dần hạ nhiệt từ vùng đỉnh. Diễn biến này đóng vai trò như một lực hỗ trợ, giúp giảm bớt áp lực lên tỷ giá và dòng vốn ngoại, từ đó mở ra dư địa tích cực hơn cho NHNN trong việc điều hành lãi suất.

Tuy nhiên, việc giảm lãi suất sẽ được thực hiện với liều lượng hợp lý và có tính toán kỹ lưỡng, ưu tiên mục tiêu tối thượng là giữ vững an toàn vĩ mô trước những biến động khó lường của thị trường tài chính thế giới.

Trụ cột thứ hai nằm ở năng lực kiểm soát lạm phát, đặc biệt là lạm phát lõi. Việc kiềm chế thành công đà tăng giá cả sẽ tạo ra nền tảng vững chắc để duy trì một mặt bằng lãi suất thấp nhưng bền vững. Mục tiêu là tạo động lực kích thích đầu tư và sản xuất kinh doanh, nhưng tuyệt đối không để xảy ra tình trạng nền kinh tế tăng trưởng quá nóng, gây rủi ro bong bóng tài sản.

Do đó, cách tiếp cận của Việt Nam trong năm 2026 vẫn sẽ theo hướng “thận trọng – từng bước – cân bằng”. Chính sách lãi suất sẽ được điều chỉnh linh hoạt dựa trên dữ liệu thực tế, đảm bảo hài hòa giữa hỗ trợ tăng trưởng và ổn định giá trị đồng tiền.

Cuối cùng, yếu tố quyết định đến lộ trình lãi suất thực tế chính là trạng thái thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong bối cảnh nhu cầu tín dụng mở rộng. Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, nhu cầu vốn của nền kinh tế sẽ rất lớn, đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải luôn đảm bảo trạng thái thanh khoản chủ động.

Áp lực từ cầu tín dụng có thể khiến việc giảm lãi suất huy động gặp khó khăn, buộc cơ quan quản lý phải tuân thủ lộ trình điều chỉnh nhịp nhàng để tránh gây ra sự lệch pha về cung – cầu vốn (huy động và cho vay). Mặc dù vậy, nhờ sự điều hành linh hoạt và các gói hỗ trợ đặc thù, mặt bằng lãi suất cho vay năm 2026 vẫn được kỳ vọng có dư địa giảm nhẹ, tập trung ưu tiên khơi thông dòng vốn vào các lĩnh vực động lực của nền kinh tế như sản xuất, xuất khẩu và công nghệ cao.

Nhìn chung, năm 2026 sẽ không phải là năm giảm lãi suất mạnh mà là năm giữ mức thấp hợp lý, tạo nền tảng ổn định cho tăng trưởng kinh tế 10% trong khi vẫn giữ vững ổn định vĩ mô.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân – Giảng viên cấp cao, Đại học Kinh tế TPHCM đánh giá, đợt tăng lãi suất huy động cuối năm chủ yếu mang tính mùa vụ, đáp ứng nhu cầu giải ngân tín dụng. Chính sách tiền tệ vẫn phải duy trì như hiện tại để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng hai con số cho năm sau. Song, áp lực tỷ giá lớn khiến một số thời điểm, các ngân hàng phải tăng lãi suất. Tuy nhiên, mức tăng lãi suất huy động và cả cho vay trong thời gian tới cũng ở mức nhẹ.

Trả lời

Chat with us on Telegram